Hướng dẫn Giao dịch theo Sóng Elliott 1 CẤU TRÚC SÓNG ELLIOTT

Hướng dẫn Giao dịch theo Sóng Elliott 1 CẤU TRÚC SÓNG ELLIOTT

Trading News
16298 View
Like

Quay trở về thời điểm xa xưa những năm 1920-1930, có một thiên tài về kế toán chuyên nghiệp tên Ralph Nelson Elliott.

Bằng cách phân tích 75 năm các dữ liệu của thị trường chứng khoán, Elliott đã khám phá ra rằng thị trường chứng khoán có vẻ biến động một cách hỗn loạn, nhưng thực sự không phải vậy.

Khi ông 66 tuổi, cuối cùng ông đã thu được đủ bằng chứng (và sự tự tin) để chia sẻ khám phá của ông với thế giới. Ông đã xuất bản lý thuyết của ông với tiêu đề “The Wave Principle”.

Theo ông, thị trường được giao dịch trong những chu kỳ lặp đi lặp lại, do những cảm xúc của nhà đầu tư bị ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài (CNBC, Bloomberg, ESPN) hay tâm lý chung của phần lớn nhà đầu tư tại thời điểm đó.

Elliott giải thích rằng đường cong của giá đi lên và xuống do tâm lý của một lượng lớn nhà đầu tư luôn xuất hiện trong các mô hình được lặp đi lặp lại. Và ông gọi các thay đổi lên xuống này là sóng. Ông tin rằng, nếu bạn có thể nhận biết đúng mô hình giá được lặp đi lặp lại, bạn có thể dự đoán những biến động tiếp theo của giá.

Điều này làm Elliott lôi cuốn các nhà giao dịch. Nó cho họ cách để xác định rõ ràng nơi giá có nhiều khả năng đảo chiều. Nói một cách khác, Elliott tạo ra một hệ thống mà ở đó các nhà giao dịch có thể nhận biết đỉnh hoặc đáy của giá.

Và ông đã đặt tên cho phát minh của mình là: Lý thuyết sóng Elliott

Nhưng trước khi chúng ta đi sâu vào sóng Elliott, bạn cần hiểu Fractals là gì.

Fractals

Về cơ bản, Fractals là một cấu trúc bao gồm nhiều phần giống nhau. Các nhà toán học gọi đây là sự tự đồng dạng. Bạn không phải đi đâu xa để tìm Fractals, nó ở ngay cạnh bạn, trong thiên nhiên của chúng ta.

Một vỏ sò biển là một Fractal. Một mảnh tuyết là một Fractal. Một đám hay tia chớp cũng là một Fractal.

Một điểm quan trọng của sóng Elliott là vì chúng là những Fractals. Cũng giống như vỏ sò biển, hay mảnh tuyết, sóng Elliott có thể chia thành nhiều sóng Elliott nhỏ hơn.

Bạn đã sẵn sàng nghiên cứu về Elliott chứ? Nào chúng ta bắt đầu!

  1. CẤU TRÚC SÓNG ELLIOTT

MÔ HÌNH SÓNG 5-3

Ông Elliott đã chỉ ra rằng thị trường có xu hướng di chuyển trong cái mà ông gọi là mô hình sóng 5-3.

Mô hình 5 sóng đầu được gọi là sóng đẩy (impulse wave).

Mô hình 3 sóng sau được gọi là sóng hiệu chỉnh (corrective wave).

Trong mô hình 5 sóng đầu, sóng 1, 3, 5 là các sóng đẩy (impulse waves) – cùng hướng với xu hướng chính, trong khi đó sóng 2, 4 có tính hiệu chỉnh (corrective waves).

Đầu tiên hãy xem mô hình 5 sóng đẩy với hình vẽ bên dưới:

Nếu bạn còn thấy chưa rõ ràng, vậy ta sẽ thêm 1 chút màu sắc nhé:

Giờ đây bạn có thể nhận thấy một cách rõ ràng 5 sóng, mỗi sóng tương ứng với một màu. Trong phạm vi tài liệu này, chúng ta sẽ sử dụng cổ phiếu để minh họa. Ngoài ra, lý thuyết Elliott có thể dễ dàng áp dụng cho tiền tệ, trái phiếu, vàng, dầu, ngoại hối…

Dưới đây là mô tả ngắn gọn về mỗi sóng:

Sóng 1

Sóng 1 hiếm khi rõ ràng khi hình thành. Khi sóng đầu tiên của đợt thị trường tăng bắt đầu, tin cơ bản gần như là tiêu cực ở toàn cầu. Xu hướng trước đó được xem là vẫn còn hiệu lực. Tuy nhiên giá bắt đầu tăng nhẹ do các nhà đầu tư nhận định giá đang ở mức thấp và là thời điểm thích hợp để mua vào. Khối lượng giao dịch dường như tăng một chút khi giá tăng, nhưng không đủ để cảnh báo các nhà phân tích kỹ thuật.

Sóng 2

Tại thời điểm này, 1 phần các nhà đầu tư mua vào tin rằng cổ phiếu đã tăng vượt mức giá trị của nó và quyết định chốt lời, điều này khiến các cổ phiếu giảm điểm. Thường là thông tin vĩ mô, vi mỗ vẫn xấu. Cảm xúc giá giảm nhanh chóng hình thành, và “đám đông” vẫn tin là thị trường vẫn đi xuống. Tuy nhiên, một số dấu hiệu tích cực xuất hiện: khối lượng giao dịch thấp khi giá đi xuống, giá không giảm thấp hơn 61,8% độ dài của sóng 1.

Sóng 3

Sóng 3 thông thường là sóng lớn nhất và mạnh nhất trong một xu hướng (sóng 3 không bao giờ là sóng ngắn nhất). Thông tin tích cực và nhà phân tích cơ bản dự báo tích cực về lợi nhuận của doanh nghiệp cũng như triển vọng thị trường. Các nhà đầu tư tham gia mạnh vào thị trường, giá nhanh chóng tăng vượt qua đỉnh của sóng 1 cùng với sự gia tăng của khối lượng giao dịch.

Sóng 4

Sóng 4 thường rõ ràng là sóng điều chỉnh giảm khi các nhà đầu tư đã nhận được 1 tỷ suất sinh lợi như kỳ vọng đồng thời bắt đầu xuất hiện cảm giác lo ngại khi thị trường đã tăng điểm mạnh ở sóng 3 dẫn đến hành vi chốt lời hàng loạt (mặc dù có thể không có thông tin xấu trong giai đoạn này). Sóng 4 thường là sóng phức tạp và khó dự đoán nhất.

Sóng 5

Sóng 5 là sóng cuối cùng trong xu hướng chính. Tiếp tục là những thông tin tích cực về triển vọng vĩ mô, vi mô. Các nhà đầu tư tham gia vào thị trường đẩy giá tăng trở lại vượt qua đỉnh của sóng 3. Tuy nhiên sóng 5 thường không tăng mạnh bằng sóng 3 và khối lượng giao dịch thường thấp hơn sóng 3. Vào cuối sóng 5, bắt đầu xuất hiện dấu hiệu phân kỳ của các chỉ báo dao động như Stochastic, MACD,…

Sóng điều chỉnh ABC

Khi sóng đẩy hoàn thành, thị trường sẽ điều chỉnh sau đó và đổi chiều bởi 3 sóng ngược xu hướng chính. Chữ được sử dụng thay cho số để phân biệt giữa sóng đẩy và sóng điều chỉnh. Dưới đây là ví dụ mô hình 3 sóng điều chỉnh.

Chúng tôi lấy ví dụ về thị trường tăng điểm không có nghĩa lý thuyết sóng Elliott không thể áp dụng cho thị trường giảm điểm. Mô hình sóng 5-3 cũng có thể như sau:

Theo Elliott, có 21 mô hình sóng điều chỉnh ABC từ đơn giản đến phức tạp.

“Trời đất ơi, 21 ư, làm sao tôi có thể nhớ hết tất cả!”

Thực tế nó khá dễ dàng. Điều tuyệt vời về sóng Elliott là bạn không phải ghi nhớ tất cả 21 dạng sóng điều chỉnh ABC bỏi vì nó được hình thành bởi 3 mẫu rất đơn giản và dễ hiểu.

a) Mẫu Zig-Zag

Mẫu Zig-Zag là những đường giá di chuyển dốc ngược lại với xu hướng hiện tại. Sóng B thường có chiều dài ngắn nhất so với sóng A và C. Mô hình Zig-Zag có thể xảy ra 2 hoặc 3 lần trong một lần điều chỉnh (từ 2 đến 3 mô hình zig-zag gắn với nhau). Giống như tất cả các sóng, mỗi sóng trong mô hình zig-zag có thể chia thành 5 mô hình sóng.

b) Mẫu phẳng

Mẫu phẳng đơn giản là sóng đi ngang. Nhìn chung thì độ dài của sóng là giống nhau và sóng B là đảo chiều của sóng A và sóng C. Đôi khi sóng B có thể đi xa hơn điểm bắt đầu của sóng A.

c) Mẫu tam giác

Mẫu tam giác là mô hình điều chỉnh bởi sự hội tụ hay phân kỳ các đường xu hướng. Tam giác được tạo bởi 5 sóng di chuyển ngược với xu hướng. Những tam giác này có thể đối xứng, giảm dần, tăng dần, hoặc mở rộng.

CHIA SẺ:
Trả lời